VỢ NHẶT | Tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân từ nhân vật anh cu Tràng

Ngày 11/03/2021 08:33:20, lượt xem: 1681

Đề bài: Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, nhà văn Kim Lân đã viết: “ Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Từ những câu văn trên và hiểu biết của anh/chị, hãy phân tích sự chuyển biến tâm trạng nhân vật anh cu Tràng từ khi đón người “vợ nhặt” về nhà. Qua đó hãy làm rõ tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân.

Bài làm

Còn nhớ sinh thời tác giả của “Bỉ vỏ” - nhà văn Nguyên Hồng từng “phán” về đồng nghiệp của mình rằng: Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với “đất” với “người” với “thuần hậu nguyên thuỷ của cuộc sống nông thôn”. Quả thật không chê vào đâu được lời “truyền thần” ấy của nhà văn Nguyên Hồng! Sự nghiệp và những quan niệm về văn chương của Kim Lân qua những tác phẩm của ông đã để lại rất nhiều ấn tượng đẹp trong lòng độc giả, và càng chứng minh nhận định của nhà văn Nguyên Hồng không thể bỏ đi từ nào được. Đọc “Vợ nhặt”, tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân, ta càng hiểu rõ và thấm nhuần hơn điều này. Tràng là nhân vật chính trong tác phẩm. Qua những cảm nhận về diễn biến tâm trạng của Tràng từ khi đón người vợ nhặt về nhà, được Kim Lân miêu tả tiêu biểu qua chi tiết: “Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”, bạn đọc có cơ hội để thấm thía hơn tư tưởng nhân đạo của tác giả.

Kim Lân - nhà văn suốt một đời gắn bó với cuộc sống nông thôn thuần hậu, chất phác đã mở ra cánh cửa văn chương của mình bằng sở trường viết truyện ngắn. Tuy số lượng tác phẩm không nhiều nhưng cũng đủ cho ông có một chỗ đứng vững chắc trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Một trong những truyện ngắn nổi bật của Kim Lân mà người đọc không thể không nhắc đến đó là “Vợ nhặt”. Ông đã tâm sự trên báo rằng: “Vợ nhặt” ban đầu là một tiểu thuyết nhưng loay hoay thế nào, kết cục nó lại về lại truyện ngắn.”. “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí”, với tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” – được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), ông dựa vào một phần truyện cũ để viết truyện ngắn này. Tác phẩm đã mang đến những thành công vang dội gắn liền với tên tuổi Kim Lân trong đó nổi bật nhất là tài năng miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật một cách tinh tế, tiêu biểu là sự chuyển biến trong tâm trạng của nhân vật anh cu Tràng khi đưa người “vợ nhặt” về nhà. Qua đó, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật ấy đã thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của nhà văn.

Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân - một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với "thuần hậu phong thủy" ấy. Trong lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá ra diễn biến tâm lý thật bất ngờ, đặc biệt đối với hình ảnh nhân vật chính – anh cu Tràng.

Tràng hiện lên là một nhân vật có ngoại hình thô kệch, xấu xí: “thân hình to lớn, lưng bè như lưng gấu, hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra rung rung làm cho bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lí thú vừa dữ tợn”. Vẻ ngoài xấu xí như thể hiện Tràng chính là “sản phẩm được gọt đẽo sơ sài bởi bàn tay của tạo hóa”. Không chỉ xấu xí, anh ta còn cộc cằn, thô lỗ và ngây ngô “hắn có tật vừa đi vừa nói lảm nhảm những điều mà hắn nghĩ”. Tràng thường trở thành thú vui, trò cười cho bọn trẻ con xóm ngụ cư. Tràng xuất thân trong một gia đình nghèo, sống cảnh mẹ góa, con côi và là dân ngụ cư - vốn là những con người vì nghèo đói mà phải bỏ nhà đi tha hương cầu thực. Có thể nói ở Tràng hội tụ đủ những điều kiện ế vợ. Thế nhưng, Tràng đã có vợ trong hoàn cảnh rất đỗi bi hài. Giữa nạn đói thê thảm, tự nuôi thân chưa chắc đã xong mà Tràng lại vô tư đồng ý đưa thị - một người phụ nữ xấu xí, cũng nghèo khổ, đang ở trong tình cảnh cùng đường vì thiếu miếng ăn - về làm vợ. “Sính lễ” chỉ có hai lần gặp mặt, bốn bát bánh đúc và một câu nói tầm phơ tầm phào, thị đã đồng ý theo Tràng, và Tràng từ đây đã có vợ.

Mới đầu, Tràng cũng lo lắng, chợt nghĩ: “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng”. Sau không biết nghĩ thế nào Tràng tặc lưỡi “Chậc, kệ”. Lòng nhân hậu khiến anh không nỡ từ chối bởi trong cái đói quay quắt thế này, cho miếng ăn là cho nhau sự sống, gắn thêm miệng ăn vào mình là thêm một nguy cơ chết đói. Thế là Tràng quyết định “nhặt” vợ trong một tình huống độc đáo, lạ lùng, thêm một chút hài hước. Phải chăng đằng sau quyết định ấy là một niềm khát khao có được hạnh phúc lứa đôi, điều mà trong hoàn cảnh bình thường, đó chỉ là mơ ước. Người ta bảo, câu chuyện anh cu Tràng nhặt được vợ là quyết định liều lĩnh của những kẻ liều lĩnh. Nhưng phải thừa nhận với nhau một điều rằng, từ sự liều lĩnh như vậy, chúng ta đã có được những thông điệp rất đáng trân trọng được rút ra.

Chuyện Tràng nhặt được vợ khiến ai nấy đều bất ngờ, ngạc nhiên, bản thân Tràng chính là người ngạc nhiên nhất. Với bản thân mình cộng với gia cảnh nhà mình, có lẽ anh chưa bao giờ nghĩ tới việc xảy ra ngày hôm nay. Nhưng chỉ với một lời bông đùa vu vơ, người phụ nữ đó đã theo anh về thật. Khoảnh khắc cầu hôn đối với mỗi người đều là phút giây đáng trân trọng, nhưng với anh cu Tràng đó lại là một giây phút, khoảnh khắc ngẫu nhiên không tính toán trước. Diễn biến tâm trạng của Tràng sau đó khiến người đọc bắt được rất nhiều khoảnh khắc thú vị, cũng chứng tỏ những người giống như anh ham sống tới nhường nào.

Trên đường về nhà, thái độ của Tràng có nhiều khác lạ. “Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh.” Nhà văn Kim Lân đã diễn tả sinh động niềm hạnh phúc và sự cưu mang, đùm bọc lẫn nhau của những người nghèo khổ trong hoàn cảnh tăm tối của những ngày đói kém. Tràng như quên cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, trong lòng chỉ còn tình nghĩa đối với người đàn bà đi bên. Với anh, tình yêu (hay khởi đầu chỉ là tình thương) gắn liền với trách nhiệm. Đó là cảm giác và biểu hiện đầu tiên cho thấy Tràng là một người đàn ông tốt, chân thành, đáng quý. Trên đường về, Tràng cố tìm một khoảnh khắc nào đó để nói với thị một câu cho thật tình tứ sau khi đưa thị vào chợ mua mấy thứ đồ con con nhưng anh chàng lại không thể ngay lập tức thay đổi bản ngã thô kệch của mình. Thế nhưng, sự chu đáo quan tâm tới người đàn bà bên cạnh mình cũng đã được thể hiện khá rõ với việc nhìn thị xem thị đang cảm thấy thế nào, mua 2 hào dầu để tối nay thắp cho sáng, đùa với thị trên đường về nhà. Khi lũ trẻ trong xóm chạy ra trêu anh, hôm nay anh không đùa mà nghiêm mặt lại, biết có bao nhiêu ánh mắt đang đổ dồn về thị, anh thấy đó làm thích chí lắm. Lần đầu tiên đi bên một người đàn bà mà người đó lại là vợ mình khiến người đàn ông như Tràng vốn dĩ rất trẻ con nay là trưởng thành. Hạnh phúc dường như đang chạm khẽ, mơn man trái tim của người đàn ông này sau biết bao tháng năm sống ngày qua ngày không chút suy nghĩ.

Về đến nhà, anh cu Tràng đứng tây ngây trước khung cảnh cái nhà nằm rúm ró giữa những bụi cỏ dại lổm nhổm. Khi dẫn thị vào nhà, tâm trạng và thái độ của Tràng cũng có những diễn biến khá phức tạp. Bắt đầu là “xăm xăm bước vào trong nhà”, dọn dẹp sơ qua, thanh minh về cảnh nhà bừa bộn vì thiếu tay đàn bà. Rồi Tràng thấy ngượng nghịu “đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc”, chợt thấy sờ sợ, anh lấm lét bước vội ra sân, sốt ruột mong mẹ về. Anh cứ chạy ra ngoài sân ngóng mẹ rồi lại nhìn vào trong nhà, lòng thắc mắc không hiểu sao thấy thị cứ buồn buồn như vậy. Anh không dám hỏi, chỉ tự hỏi mình, lòng cứ suy nghĩ vẩn vơ. Tràng hồi hộp và lo lắng không biết mẹ sẽ nói gì với nàng dâu mới, mong ngóng mẹ trong lòng sốt ruột như có lửa. Tràng bây giờ, đã trở thành một người đàn ông biết lo lắng những công việc của mình.

Khi thấy mẹ về, Tràng “reo lên như một đứa trẻ”, trịnh trọng mời mẹ vào nhà, trình bày mộc mạc câu chuyện lấy vợ đặc biệt của mình và xin ý kiến mẹ. Tràng là người rất lễ nghĩa, ai dám bảo cái nghèo, cái đói sẽ tiêu diệt được đạo lí của con người. Khi bà mẹ tỏ ý “mừng lòng”, anh thở phào nhẹ nhõm “bước từng bước dài ra sân”. Niềm hạnh phúc của anh ngỡ như không phải bây giờ đã biến thành hiện thực. Anh cu Tràng hiện tại đã là một người đàn ông chân chính của gia đình, anh đã có vợ. Diễn biến tâm trạng từ ngạc nhiên, bất ngờ tới gần gũi, thân quen, từ lo lắng hồi hộp tới hạnh phúc vỡ òa. Tất cả xảy ra giống như một câu chuyện kỳ diệu trong cuộc sống, một câu chuyện khó tin nhưng có thật.

Sáng hôm sau, Tràng dậy muộn hơn và thấy cuộc đời mình từ đây đã thay đổi hẳn. Tràng cảm thấy “Trong người êm ái lửng lơ như từ trong giấc mơ đi ra.” Tràng ngạc nhiên vì nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng, mẹ và vợ đang dọn dẹp sân vườn. Từ giây phút này, Tràng đã có một gia đình mới với bao đổi thay từ những thành viên trong gia đình. Có vợ, nhân cách của Tràng cũng hoàn thiện hơn, anh bỗng thấy yêu thương, gắn bó với cái nhà của mình hơn: “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng rất muốn bây giờ mình có thể cùng với mẹ, với vợ thu dọn và tu sửa, làm một cái gì đó cho gia đình. Ánh mắt của anh hướng phía người vợ. Bây giờ trước mặt anh là một người phụ nữ đảm đang đúng mực, một người con dâu hiếu thảo không có vẻ gì là chao chát, chỏng lỏn như hôm qua anh gặp ngoài chợ. Hạnh phúc khi có một gia đình lan tỏa khiến khoảnh khắc gia đình chưa bao giờ vui vẻ đến thế. Anh nhẹ nhàng nói năng với mẹ, hiếu thuận ngoan ngoãn, mang tâm thế của một người con hiếu thảo, một người chồng có trách nhiệm và một người chủ gia đình.

Vậy là cuối cùng cuộc sống gia đình thực sự đã đến với Tràng- người đàn ông thô kệch, nghèo khổ, giữa cơn đói khát, bên bờ vực của cái chết. Có một câu chuyện cổ tích được viết giữa đời thường, giữa những ngày đói khủng khiếp 1945. Chính vẻ đẹp lung linh tỏa sáng của tình người đã gắn kết họ với nhau, sống nhân ái, chan hòa, hạnh phúc và nghĩ về tương lai với bao niềm tin, hi vọng. Bởi như lời của vợ Tràng “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang, người ta không chịu đóng thuế nữa đâu” và Tràng nghĩ đến những người đi phá kho thóc của Nhật với lá cờ đỏ bay phấp phới, mở đường đến một chân trời mới. Khi được vợ gợi ý về đoàn người đi phá kho thóc trong bữa cơm ngày đói. Tràng đã bắt đầu mơ hồ một điều gì đó và cảm thấy tiếc rẻ vẩn vơ. Đây là chi tiết mở cho người đọc có thể hoàn toàn tin tưởng vào sự thay đổi của Tràng và thị khi được giác ngộ cách mạng.

Bằng cái nhìn mới mẻ về cuộc sống của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám, Kim Lân đã vẽ lên một bức tranh hiện thực về nạn đói và cái chết đầy bi thương của những năm tháng này nhưng vẫn ánh lên khát khao hạnh phúc mãnh liệt của người lao động nghèo khổ. Kim Lân đã không nỡ “giết chết đứa con tinh thần” của mình mà đã gieo vào đó mầm hy vọng, mang đến hạnh phúc cho họ vào những tháng ngày tăm tối nhất. Tấm lòng cảm thông, thấu hiểu thể hiện ở nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật một cách chi tiết, chính xác và hấp dẫn. Tràng, có lẽ chỉ dưới ngòi bút của Kim Lân mới hiện lên mộc mạc, gần gũi và đáng mến đến thế. Nhà văn đã khẳng định vẻ đẹp đáng trân trọng của người lao động dù trong hoàn cảnh nào họ cũng không nguội tắt hy vọng, vẫn vươn lên để sống với một niềm tin vào tương lai tốt đẹp hơn, thể hiện ở hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới cứ trở đi trở lại trong tâm trí Tràng ở cuối câu chuyện. Tất cả đó đã thể hiện một tinh thần nhân đạo cao cả của một nhà văn đôn hậu, giản dị - nhà văn Kim Lân.

"Cái đẹp cứu vớt con người" (Đôxtôiepki). Và, "Vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm, xây dựng nên một nhân vật anh cu Tràng với diễn biến tâm lí đầy tự nhiên nhưng cũng thật thấm thía, cảm động, đặc biệt là từ khi đón người vợ nhặt về nhà, giúp bạn đọc khái quát được tinh thần nhân đạo sâu sắc của nhà văn. Đọc xong thiên truyện, dấu ấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy. Và nếu để dùng một nhận định khái quát về thiên truyện này, tôi xin được mạn phép mượn lời văn của tác giả Nguyễn Khải: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ những gian khổ, hy sinh. Trên đời không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có đủ sức mạnh để bước qua những ranh giới đó.”

BÀI VIẾT THUỘC VỀ TEAM CHUYÊN MÔN CỦA HỌC VĂN CHỊ HIÊN

Để hiểu hơn về toàn bộ các tác giả cùng kiến thức tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 12 và nhiều thông tin bổ ích khác nữa hãy nhanh sở hữu bộ SỔ TAY VĂN HỌC nhé! Hãy xem bản đọc thử SỔ TAY VĂN HỌC THƠSỔ TAY VĂN HỌC VĂN XUÔI nhé.

Cập nhật thêm những bài viết hay tại các kênh truyền thông của HVCH

Fanpage:  Học văn chị Hiên

Youtube: Học văn chị Hiên - Youtube 

IG: Học văn chị Hiên

Tiktok: Học văn chị Hiên

Tin liên quan