PHONG CÁCH NGUYỄN TUÂN qua CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

Ngày 21/11/2019 10:36:22, lượt xem: 8420


PHONG CÁCH NGUYỄN TUÂN qua CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

 

Nhà văn Nguyên Ngọc quan niệm : “ Đã là văn chương thì phải đẹp, đẹp là chức năng hàng đầu, là đạo đức của văn chương “. Nhưng cái đẹp của văn chương cũng như cái đẹp của cuộc sống hằng ngày phong phú và đa dạng nên khi bàn về cái đẹp của văn chương tiến sĩ Đoàn Cẩm Thi cho rằng : “ Cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo, là cái riêng, cái độc đáo”. Thật vậy, văn chương là “ lĩnh vực của cái độc đáo “ nên nó đòi hỏi người cầm bút phải có nét bút mới mẻ, ngòi bút sáng tạo và một giọng điệu riêng biệt. Chính những dấu ấn sáng tạo độc đáo đã làm nên cái đẹp của văn chương. Trong lịch sử văn học dân tộc, đặc biệt là giai đoạn từ năm 1900 đến 1945 đã ghi lại nhiều dấu chân của những con người mang trong mình phong cách mới lạ, độc đáo. Nổi bật trong số ấy phải kể đến nhà văn Nguyễn Tuân - một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Mỗi lời văn của Nguyễn Tuân “ đều là những nét bút trác tuyệt như một nét chạm khắc sắc sảo trên mặt đá quý của ngôn ngữ “ ( Tạ Tụy). Một trong những nét bút trác tuyệt ấy là tác phẩm “ Chữ người tử tù “. Nổi bật trong tác phẩm là hình tượng nhân vật Huấn Cao và cảnh cho chữ - một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.
Nguyễn Tuân ( 1910 - 1987 ) sinh ra trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn. Quê ông ở làng Mọc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông học đến cuối bậc Thành Chung ( tương đương cấp trung học cơ sở hiện nay ) ở Nam Định rồi về Hà Nội viết văn làm báo. Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân tìm đến Cách mạng, tự nguyện dùng ngòi bút phục vụ hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Từ năm 1948 - 1958 ông giữ chức Tổng thư ký hội văn nghệ Việt Nam. Nguyễn Tuân là một nhà văn gắn liền với trào lưu văn học lãng mạn. Thực tại cuộc sống khiến Nguyễn Tuân cảm thấy cô đơn, chán chường, tuyệt vọng, bế tắc, luôn tìm cách thoát li hiện thực bằng những chuyến đi vô định hay vùi đầu vào cuộc sống truỵ lạc, lãng quên. Thái độ bất hoà với thực tại của Nguyễn Tuân được thể hiện qua mấy mảng đề tài
quen thuộc của ông đó là chủ nghĩa xê dịch, lý tưởng hoá quá khứ và đề tài truỵ lạc. “Vang bóng một thời “ là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài lý tưởng hoá quá khứ của Nguyễn Tuân. Có thể nói trong “Vang bóng một thời” Nguyễn Tuân dường như cố quên đi cái thực tại ông đang sống để say sưa tỉa tót, tô đậm cho những nét đẹp đã phai mờ, những nét vẽ của những ngày đã qua, một thời đã tàn. Ông đã làm sống dậy những nét đẹp của xã hội xưa từ cách uống trà, ăn kẹo, đánh bạc bằng thơ. Nguyễn Tuân luôn khao khát đi tìm cái đẹp với một niềm tin bất diệt, cái đẹp bao giờ cũng có sức cảm hóa đối với cái xấu và cái ác. Đọc “Chữ Người Tử Tù” ta sẽ thấy rõ được điều đó.
“ Chữ người tử tù “ lúc đầu có tên là “ dòng chữ cuối cùng “ in trên tạp chí Tao Đàn năm 1939 sau đó được tuyển in trong “ Vang bóng một thời “ và đổi tên thành “ Chữ người tử tù “. “ Vang bóng một thời “ in lần đầu vào năm 1940 gồm 11 truyện ngắn, là tác phẩm kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước Cách mạng, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét là “ một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ “. Nhân vật chính trong “ Vang bóng một thời “ phần lớn là những con người tài hoa, bất đắc chí. Gặp lúc Hán học suy vi, sống giữa buổi “ Tây Tàu nhố nhăng “ những con người này mặc dù buông xuôi bất lực nhưng vẫn mâu thuẫn sâu sắc với hiện thực. Họ không chịu a dua theo thời, không chạy theo danh lợi mà cố giữ cái “ thiên lương “ và “ sự trong sạch của tâm hồn “.
Họ dường như cố ý lấy cái tôi tài hoa, ngông nghênh của mình để đối lập với xã hội phàm tục, phô diễn lối sống đẹp, thanh cao như một thái độ phản ứng trước trật tự xã hội. Trong số những người tài hoa ấy nổi bật lên hình tượng ông Huấn Cao tài hoa, không chỉ tài hoa mà còn có “ thiên lương “ trong sáng, chí lớn không thành nhưng tư thế vẫn hiên ngang bất khuất. Một trong những khâu quan trọng nhất của nghệ thuật truyện ngắn là sáng tạo tình huống truyện độc đáo. Tình huống truyện là tình thế xảy ra trong truyện, tạo cho câu chuyện thêm đặc sắc. Tình huống truyện biểu hiện mối quan hệ giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật với hoàn cảnh sống, qua đó bộc lộ tâm trạng tính cách suy nghĩ của nhân vật.
Vốn là một nhà văn có chất ngông độc đáo, Nguyễn Tuân đã xây dựng một tình huống truyện đặc sắc, giàu kịch tính cho hai tuyến nhân vật trong tác phẩm của mình. Hai nhân vật đó là Huấn Cao — người tử tù phạm tội đại nghịch đang bị giam chờ ngày thụ hình, người tài hoa nổi tiếng viết chữ đẹp và nhân vật viên quản ngục - người quản lí tù nhân, thi hành pháp luật, duy trì bảo vệ trật tự xã hội phong kiến thối nát đại diện cho triều đình nhưng lại rất yêu cái đẹp, hâm mộ người tài và có tấm lòng lương thiện. Trên bình diện xã hội, họ hoàn toàn đối lập nhau nhưng họ lại có cùng điểm chung là say mê cái đẹp tao nhã và đều có tâm hồn thanh khiết, lương thiện, có tấm lòng “ biệt nhỡn liên tài ”. Như vậy, trên bình diện nghệ thuật, họ lại là tri kỉ của nhau. Hoàn cảnh gặp gỡ của họ thật éo le. Đó là nơi tù ngục tối tăm, nhơ bẩn, nơi người này quản lí người kia.
Tình huống này dẫn đến xung đột dữ dội trong nội tâm của viên quản ngục: làm thế nào để vừa làm tròn phận sự của một người canh tù lại vừa giữ trọn tấm lòng đối với một người tài hoa mà mình từng quý trọng và ao ước gặp mặt ? Từ đây nảy sinh nhiều kịch tính. Người tử tù thành người mà viên quản ngục nhờ vả muốn xin chữ, đồng thời lại là người mở đường hướng thiện cho cuộc sống về sau của viên quản ngục. Chính tình huống độc đáo này đã giúp làm nổi bật trọn vẹn, tự nhiên vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao và làm sáng tỏ tấm lòng biệt đãi người tài của viên quản ngục.
Huấn Cao là nhân vật khá điển hình cho bút pháp lãng mạn. Chúng ta đều biết văn học lãng mạn thường miêu tả theo những mẫu hình lí tưởng. Có nghĩa là nhà văn thường thả trí tưởng tượng của mình để theo đuổi những vẻ đẹp hoàn hảo nhất. Bởi thế nhân vật viết theo lối lãng mạn có tầm vóc phi thường. Nó là biểu hiện cho những gì mà nhà văn mơ ước, khao khát. Huấn Cao là một nhân vật như thế. Từ đầu đến cuối, ông hiện ra như một con người phi thường. Từ tài hoa đến thiên lương, từ thiên lương đến khí phách, nhất nhất đều có tầm vóc phi thường. Có thể nói Huấn Cao là một giấc mơ đầy tính nhân văn của ngòi bút Nguyễn Tuân.
Nhân vật Huấn Cao được xây dựng với bao tâm huyết và ngưỡng mộ của nhà văn. Trước hết Huấn Cao là một người nghệ sĩ tài hoa.
Thiêntruyện được mở đầu bằng cuộc đối thoại của hai nhân vật quản ngục và thầy thơ lại. Ở đây tuy Huấn Cao hiện lên gián tiếp nhưng cũng đủ để cho ta thấy ông nổi tiếng với cái tài viết chữ đẹp đồn khắp vùng tỉnh Sơn “ Huấn Cao ? Hay là người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không ? “ “ Huấn Cao ngoài cái tài viết chữ tốt lại còn có tài bẻ khoá vượt ngục “. “ Thế ra y văn võ đều có tài cả “. Nghệ thuật khắc hoạ tính cách gián tiếp nên nhận định, đánh giá của quản ngục về tài năng, nhân cách Huấn Cao mang tính khách quan. Huấn Cao được xem là người nghệ sĩ lớn - người sáng tạo và truyền bá cái đẹp - một nghệ sĩ thư pháp được tôn kính và được xem như một danh hoạ. Mỗi lần nhà thư pháp hạ bút là một lần sáng tạo, mỗi nét bút là sự gửi gắm, kí thác toàn bộ những tâm nguyện sâu xa của mình. Bởi thế mỗi con chữ là một tác phẩm nghệ thuật, là sự kết tinh những vẻ đẹp tâm hồn của người viết. Mỗi con chữ là hiện thân của khí phách, của thiên lương và tài hoa. Chữ Huấn Cao thể hiện nhân cách Huấn Cao. Nó quý giá không chì vì được viết rất nhanh, rất đẹp, đẹp lắm, vuông lắm, mà trước hết vì đó là những con chữ thể hiện khát vọng tung hoành của một đời con người. Chính vì thế mà có được chữ của ông Huấn Cao đã trở thành tâm nguyện lớn nhất, thiêng liêng nhất của quản ngục.
Huấn Cao không chỉ là một đấng tài hoa mà còn là một trang anh hùng tuấn kiệt, khí phách hiên ngang, bất khuất. Nguyễn Tuân đã dựa vào nguyên mẫu nhà thơ, nhà giáo, một lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân là Cao Bá Quát, một con người hết sức tài hoa và dũng khí phi thường để sáng tạo ra nhân vật Huấn Cao. Cao Bá Quát trước khi trở thành lãnh tụ nông dân cũng là thầy giáo. Nguyễn Tuân đã dựa vào hai tính cách của nguyên mẫu để xây dựng nhân vật Huấn Cao. Cao Bá Quát, người viết chữ đẹp nổi tiếng và khí phách lừng lẫy. Xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân vừa thể hiện lý tưởng thẩm mĩ của ông lại vừa thỏa mãn tinh thần nổi loạn của ông đối với xã hội đen tối tàn bạo lúc bấy giờ. Căm ghét xã hội thối nát, ông đã cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình, sự nghiệp không thành, ông bị khép vào tội phản nghịch và phải chịu án tử hình song ông không hề rung sợ hay hối tiếc. Đối với Huấn Cao, mọi sự trói buộc, tra khảo, giam cầm đều vô nghĩa. Trước những trò “ tiểu nhân thị oai “ của bọn lính ngục “ Huấn Cao lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gong xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái “. Hành động ấy bộc lộ sức mạnh phi phàm, làm toát ra tư thế hiên ngang, tinh thần bất khuất, ngạo nghễ trước lao lung. Hình bóng Huấn Cao trở nên lồng lộng trong thế giới tăm tối chốn ngục tù. Và khi viên quản ngục đến thăm hỏi : “ Vậy ngài có cần gì thêm xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất “. Huấn Cao khinh bỉ đến điều : “ Ngươi hỏi ta muốn gì ? Ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây “. Khi nói ra những lời như vậy có thể Huấn Cao sẽ phải hứng chịu “ một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan ngục bị sỉ nhục “. Nhưng một khi đã nói nghĩa là ông không hề run sợ, không hề quy phục trước cường quyền và bạo lực “ bần tiện bất năng di, phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất “.
Raxun Gamzatop từng nói : “ Giống như ngọn lửa thần bốc lên từ những cành khô, tài năng bắt nguồn từ những tình cảm mạnh mẽ của con người “. Thì ra gốc của tài năng là ở trái tim, gốc của cái tài là cái tâm. Như đại thi hào Nguyễn Du viết trong truyện Kiều : “ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài “. Nhân cách cao quý là gốc rễ tài năng của Huấn Cao.
Huấn Cao tâm sự : “ Ta nhất sinh không vì vàng bạc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi”. Ông cho chữ vì tình vì nghĩa chứ không vì tiền bạc hay uy quyền, cách xử thế này bộc lộ tính cách cương trực, trọng nghĩa, khinh tài, cuộc sống không hề gợn chút bả công danh. Huấn Cao cũng giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm coi vinh hoa phú quý trên đời chỉ là giấc chiêm bao có rồi lại mất: “ Rượu đến cội cây ta sẽ uống - Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao “. Huấn Cao cũng đồng tình với quan niệm của Nguyễn Du là không tham danh lợi mà chấp nhận “ vào lòn ra cúi “ người khác. Hơn thế, Huấn Cao là một người yêu cái đẹp, luôn hướng tới cái đẹp và ông yêu mến luôn cả những người biết quý trọng cái đẹp. Lúc đầu còn nhầm tưởng, Huấn Cao khinh bỉ quản ngục nhưng khi hiểu được sở thích cao quý của ông ta. Huấn cao rất trân trọng và cảm động nói : “ Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ “. Một con người sống tung hoành ngang dọc bốn phương “ chọc trời quấy nước “ đến chết chém còn chả sợ thế nhưng ông lại sợ phụ mất một tấm lòng nhỏ bé mà trong sáng của quản ngục. Vậy cái mà Huấn Cao tôn thờ là thiện tâm, là bản tính tốt đẹp của con người: “ Nhất sinh đề thủ bái hoa mai “. Lòng yêu quý người hiền càng làm cho tâm hồn của Huấn Cao trong sáng hơn, cao cả hơn.
Bên cạnh hình tượng Huấn Cao lồng lộng, ta còn thấy một tấm lòng trong thiên hạ đó là viên quản ngục. Quản ngục không phải là một hung thần với đôi bàn tay vấy máu mà là “ một thanh âm trong trẻo chen vào giữa bản đàn mà mọi nhạc luật đều xô bồ, hỗn loạn “ là “ cái thuần khiết giữa đống cặn bã” là “ người có tâm điền tốt và thẳng thắn “ nhưng phải “ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt “.
Nếu như sở thích của những viên quan tầm thường là vàng bạc hư danh, quyền quý an nhàn thì viên quản ngục trong tác phẩm này thì lại hoàn toàn ngược lại. Ông là một người có những sở thích và sở nguyện cao quý. Sở nguyện của ông là một ngày kia có một bức tranh chữ của Huấn Cao viết mà treo trong nhà là có một “ vật báu trên đời “. Thiết nghĩ trên cõi đời này đã có chúa ngục nào có "cái sở nguyện" cao quý như hắn ? Cái sở nguyện yêu chuộng những giá trị văn hóa truyền thống ấy cho thấy được cái tâm hồn trong trẻo của ông. Mặc dù làm một tên quan cai ngục nhưng ông không đánh mất đi cái sự lương thiện trong bản thân mình.
Ông không hề phụ thuộc vào triều đình. Khi biết Huấn Cao đến thì ông đã tìm mọi cách để xin chữ của ông dẫu biết rằng một khi bại lộ ra thì ông sẽ phải rơi đầu. Nỗi "khổ tâm" của hắn là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không dám giáp lại mặt vì quản ngục cảm thấy nhân cách tử tù xa cách ông nhiều quá ! Hơn thế nữa, hắn càng "khổ tâm" lo lắng, mai mốt đây, Huấn Cao bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ thì ông "ân hận suốt đời". Ta cảm nhận được ở con người ông những giá trị tôn vinh cái đẹp, tâm hồn ông không bị nhà ngục kia vấy đen. Trong cái nơi chỉ có sự đánh đập trả thù tra tấn đến dã man ấy mà tâm hồn ông vẫn sáng lấp lánh như một viên ngọc quý trong đêm. Có biết đến viên quản ngục chúng ta mới có thể hiểu hết được con người chúng ta. Nhiều khi cái chức vụ hay thân phận kia không quyết định đến lối sống và tâm hồn của họ.
Không chỉ là một người yêu chuộng cái đẹp và có sở nguyện cao quý mà viên quản ngục còn là một người rất trân trọng những con người tài giỏi như Huấn Cao. Lần đầu gặp Huấn Cao trong cảnh nhận tù, ngục quan có “ lòng kiêng nể “ “ lại còn có biệt nhỡn đối riêng với Huấn Cao”. Suốt nửa tháng trời, ngục quan bí mật sai thầy thơ lại dâng rượu và đồ nhắm cho người tử tù Huấn Cao và các đồng chí của ông. Rồi đến một hôm quản ngục đích thân xuống hỏi thăm tên tù ngục ta lại càng thêm thấy rõ tấm chân tình của hắn dành cho Huấn Cao. Viên quản ngục nhẹ nhàng và khiêm tốn : “ Đối với những người như ngài phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là người có nghĩa khí tôi muốn châm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho. Sợ đến tai lính tráng họ biết thì phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần gì thêm xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất “. Thế nhưng trước những lời lẽ kính cẩn , tôn trọng của hắn, Huấn Cao lại miệt thị nặng lời, gần như xua đuổi : “ Ngươi hỏi ta muốn gì ? Ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây “. Trước tình huống ấy, người nắm quyền uy trong tay rất bình tĩnh, không nổi trận lôi đình để trả thù, không giở trò tiểu nhân thị oai. Ngục quan chỉ lui ra lễ phép với một câu: "Xin lĩnh ý". Và từ hôm ấy, cơm
rượu vẫn đưa đến lại có phần "hậu hơn trước". Tại sao ngục quan lại xử sự như thế? về vị thế, hắn chỉ tự coi mình là "là kẻ tiểu lại giữ tù", còn Huấn Cao là một anh hùng tài tử "chọc trời quấy nước", nổi danh trong thiên hạ về cái tài "viết chữ rất nhanh và rất đẹp". Vả lại, quản ngục còn hi vọng chờ cho Huấn Cao "dịu bớt tính nết" để xin chữ. Nếu được tử tù cho chữ thì hắn ta "mãn nguyện". Qua đó, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật bao phẩm chất của ngục quan: bình tĩnh, lễ độ, nhẫn nhục, sẵn sàng quỳ gối trước hoa mai. Thật may mắn là Huấn Cao đã kịp hiểu ra tấm lòng “ biệt nhỡn liên tài “ yêu quý cái đẹp của quản ngục. Và tấm lòng này đã khiến cho Huấn Cao cảm động. Sự cảm động này của Huấn Cao là cội nguồn dẫn
đến cảnh cho chữ. Ông đã dành đêm cuối cùng của mình tại nhà giam tỉnh Sơn để cho chữ quản ngục. Vậy là việc Huấn Cao cho chữ không giống như việc trả nợ một cách tầm thường, không giống việc một kẻ sắp bị tử hình đang đem tài sản cuối cùng cho người sống, cũng không phải là cơ hội cuối cùng để Huấn Cao trình diễn tài năng. Về bản chất việc cho chữ này là sự xúc động của một tấm lòng trước một tấm lòng. Và Huấn Cao đã dùng tấm lòng mình đáp lại một tấm lòng.
Cảnh ông Huấn cho chữ trong nhà giam được khắc họa bằng chi tiết gây ấn tượng, cảm hứng mãnh liệt trước cảnh tượng cho chữ xưa nay khó có đã khiến Nguyễn Tuân say sưa sáng tạo bằng các ngôn từ sắc sảo, bút pháp dựng người, dựng cảnh đạt tới độ điêu luyện. Và cảnh cho chữ được Nguyễn Tuân gọi đó là cảnh xưa nay chưa từng có. Vì sao Nguyễn Tuân lại nói đây là một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”? Cảnh tượng này quả là lạ lùng, chưa từng có vì trò chơi chữ nghĩa thanh tao có phần đài các lại không diễn ra trong thư phòng, thư sảnh, mà lại diễn ra nơi ngục tối chật hẹp, bần thỉu, hôi hám. Chi tiết này cho thấy sự bất diệt của cái đẹp. Cái đẹp tồn tại ở mọi nơi nói như Thạch Lam “ Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi từng hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng trong mọi vật tầm thường “ và “ công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chính những chỗ không ai ngờ tới”. Với tác phẩm “ Chữ người tử tù “ Nguyễn Tuân đã hoàn thành xuất sắc công việc của một nhà văn.
Vẻ đẹp rực rỡ của Huấn Cao hiện lên trong đêm viết chữ cho viên quản ngục. Cũng với cảnh này, người tử tù đang đi vào cõi bất tử. Dưới ánh đuốc đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu, “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván”. Sáng mai ông sẽ bị tử hình, nhưng những nét chữ vuông vắn, tươi đẹp hiện lên cái hoài bão tung hoành cả một đời của ông trên lụa bạch sẽ mãi còn đó. Đặc biệt ở đây còn diễn ra một sự đổi ngôi xưa nay chưa từng có. Kẻ cầm quyền hành trong tay thì bị tước hết quyền uy, khúm núm trước Huấn Cao. Kẻ bị mất cả quyền sống là ông Huấn Cao lại trở nên đầy quyền uy khi chăm chú tô đậm từng nét chữ và cho quản ngục những lời khuyên. Và quản ngục vái lạy Huấn Cao như vái lạy một bậc thánh nhân: “ Kẻ mê muội này xin bái lĩnh “. Cảnh cho chữ là sự khẳng định chiến thắng của cái đẹp, của thiên lương trước cái xấu, cái ác. Trong căn phòng giam ẩm thấp đó, ánh sáng rực rỡ của bó đuốc đã đẩy lùi bóng tối, mùi thơm của chậu mực đã xua đuổi mùi phân chuột, phân gián, màu trắng của tấm lụa bạch đã xóa tan sự u ám cửa nhà tù. Lúc này cái đẹp đang lên ngôi, cái đẹp đang đăng quang, lấn át hoàn toàn cái xấu. Với cảnh cho chữ này, cái nhà ngục tăm tối đã đổ sụp, bởi vì không còn kẻ phạm tội tử tù, không có quản ngục và thư lại, chỉ có người nghệ sĩ tài hoa đang sáng tạo cái đẹp trước đôi mắt ngưỡng mộ sùng kính của những kẻ liên tài, tất cả đều thấm đẫm ánh sáng thuần khiết của cái đẹp, cái đẹp của thiên lương và khí phách. Tuy không trực tiếp chống lại triều đình nhưng qua tác phẩm Nguyễn Tuân đã hạ bệ triều đình, đề cao, ca ngợi, ngưỡng mộ và cho những người chống lại triều đình chiến thắng, cho thấy tấm lòng yêu nước thầm kín của tác giả.
Đọc chữ người tử tù ta càng thấm thía điều mà Vũ Ngọc Phan đã nói: “ Văn Nguyễn Tuân không phải là thứ văn để người nông nổi thưởng thức “. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Huấn Cao rất đặc sắc. Hầu như không có chi tiết m nghệ thuật nào thừa. Tiếng đồn đại, lai lịch, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động... của nhân vật được tác giả lựa chọn rất "đắt" làm hiện lên một Huấn Cao hiên ngang bất khuất, tài tử tài hoa, quý trọng bằng hữu và trân trọng những tấm lòng biệt nhỡn liên tài trong Thiên hạ. Nguyễn Tuân đã sử dụng một loạt từ Hán việt rất đắt như : “ pháp trường, tử tù, tử hình, nhất sinh, bộ tứ bình, bức trung đường, lạc khoản, thiên hạ, thiên lương…” tạo nên màu sắc lịch sử, cổ kính, bi tráng. Câu văn giàu hình ảnh gợi liên tưởng đến một đoạn phim quay chậm, tác giả đã “phục chế” cái cổ xưa bằng kỹ thuật hiện đại như bút pháp tả thực, phân tích tâm lí nhân vật.
Nhận xét về Nguyễn Tuân nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Thi cho rằng : “ Nguyễn Tuân là nghệ sĩ bậc thầy của tiếng Việt Nam, ông có công trong việc sáng tạo ra cái mới. Sự sáng tạo này là do sự tự học, tự tìm tòi trong chính trường đời, ngay trong chính nội tâm mình và trong văn hoá dân tộc ta và các dân tộc khác “. Chữ người tử tù có thể coi là một bằng chứng khẳng định tính xác đáng của ý kiến trên. Qua truyện ngắn “ Chữ người tử tù “ người đọc có thể dễ dàng thấy được quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Tuân : cái đẹp gắn với cái thiện và cái tài phải đi liền với cái tâm.
Tác phẩm đã kết thúc nhưng vẫn còn đó những nét chữ vuông vắn, tươi tắn của Huấn Cao, hội tụ tài hoa thiên lương trong sáng. Hai câu văn: "Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ" và "kệ mê muội này xin bái lĩnh" - đẹp như một bức tranh trong các thư hoạ nghìn xưa lưu lại, cũng là bài học làm người sáng giá.
Nguồn : #ĐặngHương
-----------------------
Học văn chị Hiên - Hơn cả một bài văn🌻🌻
#KHOAHOCVAN2020
#SotayVanhoc

Tin liên quan