[VĂN MẪU GIỮA KÌ] BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

Ngày 21/11/2020 09:51:51, lượt xem: 52

[VĂN MẪU GIỮA KÌ] BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

Cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ đã đi qua nhưng còn vọng mãi dư âm trong kí ức mỗi con người Việt Nam. Trong hai cuộc kháng chiến đầy gian khổ, hình ảnh người chiến sĩ hiện lên đầy kiêu hãnh. Nếu như trong kháng chiến chống Pháp, những người lính xuất thân từ nông thôn mang vẻ đẹp chân chất, mộc mạc. Thì đến kháng chiến chống Mỹ, người lính lại hiện lên với hình ảnh trẻ trung, sôi nổi, vui nhộn với khí thế mới và tinh thần thời đại mới. Và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã đặc tả chân thực, sắc nét hình ảnh người lính trong thời kháng chiến chống Mỹ bằng vẻ đẹp hào hùng của những người lính lái xe Trường Sơn. Để rõ hơn vẻ đẹp ấy, Học văn chị Hiên sẽ cùng các em tìm hiểu nhé!

Đề bài: Vẻ đẹp hào hùng của những người lính lái xe Trường Sơn qua “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

Mở bài:

“Hồn Nước gọi, Tiếng bom Sa Diện

Trái tim Hồng Thái nổ vang trời

Máu thơm tưới mầm non xuân đến

Vui lại rồi, Tổ quốc ta ơi!”

(Theo chân Bác- Tố Hữu)

Ôi, hồn nước trái tim Tổ quốc! Câu thơ vang lên khí phách của những con người đất Việt. Hòa vào dòng máu Lạc Hồng của dân tộc, mỗi con người của cha Lạc Long Quân đã hóa thân cho “dáng hình xứ sở” để làm nên đất nước muôn đời. Và thế hệ trẻ trong những năm tháng chống Mỹ oai hùng cũng đã góp một tiếng nói riêng để hòa vào cảm hứng chung của dân tộc. Phạm Tiến Duật, người con trưởng thành trên mái trường xã hội chủ nghĩa, một thi sĩ của núi rừng Trường Sơn huyền thoại, ông đã mang niềm vui hăm hở của tuổi trẻ ra khắp các nẻo đường chiến đấu. Nhà thơ đã tạo cho mình một giọng điệu thơ rất lính: khỏe khoắn, tự nhiên, tràn trề sức sống, rất tinh nghịch tươi vui mà giàu suy tưởng. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là tác phẩm tiêu biểu nhất của giọng thơ, hồn thơ ấy.

Thân bài:

Dãy Trường Sơn hùng vĩ là cầu nối hai miền Nam Bắc, là hình tượng một vẻ đẹp thời đại. Với những ai đã từng một lần vượt dãy Trường Sơn bằng đôi chân đất, bằng gậy Trường Sơn hay bằng cả những chiếc xe không kính sẽ mãi không quên:

“Trường Sơn đông nắng tây mưa

Ai chưa qua đó như chưa hiểu mình.”

(Tố Hữu)

Những hiểm nguy của cuộc chiến, những khó khăn của mưa nắng vẫn cứ đổ dồn vào dãy Trường Sơn. Với những người đã từng “vào sinh ra tử” với cuộc chiến đấu, với Trường Sơn hùng vĩ chắc sẽ không bao giờ quên được hình ảnh: “Bụi Trường Sơn nhòe trong trời lửa”. Bụi Trường Sơn thật khốc liệt, mưa Trường Sơn thật dữ dội, thế nhưng những chiếc xe không có kính vẫn tiếp tục băng qua chiến trường:

“Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.”

Lời thơ gần với văn xuôi nhưng vẫn đậm đà chất thơ. Không có kính chắn gió nhưng những chiếc xe vẫn chạy và người lính chấp nhận. Trong chiến đấu bao khó khăn của núi rừng Trường Sơn, bao cơn mưa, gió bụi chỉ là những điều bình thường, không có gì đáng lưu tâm. Từ “ừ thì” vừa thể hiện thái độ bình thản, ngang tàng, bất chấp. Mặc cho “mưa tuôn, mưa xối”, thái độ của những người lính vẫn tự tin, ung dung tay lái. Trong một bài thơ của Phạm Tiến Duật cũng đã được phổ nhạc: “…Trường Sơn Tây anh đi thương em… thương em bên ấy mưa nhiều…”, dù mưa có “tuôn”, có “xối”, có nhiều đi chăng nữa thì những chiếc xe vẫn tiếp tục lăn bánh vì nhiệm vụ cấp bách phía trước. Chuyện mưa ướt áo rồi gió lùa làm khô áo đó là một việc hết sức bình thường. Cấu trúc khổ 4 lặp lại cấu trúc khổ 3 đã tạo nét hài hoà, nhịp nhàng cho câu thơ. Điệp ngữ “chưa cần rửa”, “chưa cần thay”, “ừ thì” đã thể hiện thái độ người lính bất chấp gian khó, hồn nhiên, tươi trẻ trước cuộc chiến tranh khốc liệt. Những gian khổ, ác liệt của cuộc chiến dưới ngòi bút của Phạm Tiến Duật, dưới lời nói của những người lính Trường Sơn sao mà nhẹ nhàng đến thế! Có phải chăng vì cuộc chiến tranh không đủ ác liệt; mưa bụi Trường Sơn không đủ dữ dội? Không, đó là vì trong mỗi tâm hồn của người lính dũng cảm đã đi đôi với sự lạc quan, hồn nhiên. Lòng dũng cảm đã trở thành cốt lõi, tinh thần lạc quan đã hoá thành bản chất. Sang khổ thơ thứ năm, mưa bụi qua đi… nhịp thơ hơi lắng đọng lại nhường chỗ cho tình đồng chí, đồng đội nồng ấm:

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”

Từ trong làn mưa bom bão đạn, những chiếc xe cùng chung đặc điểm “không có kính”, cùng được điều khiển bởi những con người yêu nước nồng nàn đã họp lại thành những tiểu đội, san sẻ cho nhau tình đồng chí, đồng đội gắn bó. Vẫn giọng thơ thật tự nhiên, gần với văn xuôi, Phạm Tiến Duật đã khắc hoạ tình cảm cao đẹp của người lính, của tuổi trẻ sôi nổi, nhiệt tình lãng mạn. Nét duyên dáng của bài thơ là ở chỗ xe không có kính gặp nhiều khó khăn song đôi khi lại trở nên tiện lợi. Gặp bè bạn trên đường chiến đấu chỉ cần đưa tay qua cửa kính là có thể nắm được tay của đồng đội. “Từ trong bom rơi”, từ trong ác liệt mà có thể nắm được tay của đồng đội – điều đó quả thật đầy ý nghĩa. Chính những ô cửa kính vỡ ấy đã khiến cho họ thấy gần nhau hơn, khiến cái bắt tay ấy càng thêm chặt hơn và khi ấy tình đồng đội lại càng thắm thiết hơn. Cái bắt tay qua ô cửa kính vỡ như sự chia sẻ, như trao nhau niềm tin chiến thắng của những người lính Trường Sơn. Phạm Tiến Duật đã xây dựng một tứ thơ thật độc đáo. Chiếc kính vỡ là tượng trưng cho cuộc chiến tranh khốc liệt, là gian khó, thử thách. Thế nhưng vượt qua những khó khăn đó, cái bắt tay siết chặt như trao nhau niềm tin tất thắng. Đó là một vẻ đẹp đầy chất lãng mạn của chủ nghĩa anh hùng ca cách mạng. Nếu như trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã từng viết: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” để nói về sự cảm thông, san sẻ của những người cùng chung hoàn cảnh xuất thân, cùng chung mục đích, lý tưởng thì ở “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật đã xây dựng một cái bắt  tay với tất cả lòng nhiệt huyết của những người lính thời chống Mỹ – những người đã giác ngộ lý tưởng cộng sản. Với tuổi trẻ ngang tàng, sôi nổi, đầy nhiệt huyết mà không kém phần kiêu hùng, họ đã trao cho nhau tất cả niềm tin… rằng một ngày mai bình minh sẽ ló dạng ở miền Nam, rằng một ngày mai nước nhà sẽ Bắc Nam sum họp… Những người chiến sĩ lái xe dũng cảm vẫn làm tròn nhiệm vụ của mình với tinh thần vì miền Nam ruột thịt. Giọng thơ trẻ trung pha lẫn chút ngang tàng của người lính. Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

“Mưa bom bão đạn, lòng thanh thản

Nhạt muối với cơm, miệng vẫn cười.”

Xe dừng lại trong chốc lát để một bữa cơm của gia đình người lính diễn ra trong cánh rừng, giữa trời xanh:

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.”

“Trời xanh thêm” vì lòng người phơi phới, say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. “Trời xanh thêm” vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội. Vẫn nét bút tinh nghịch, tươi trẻ, hồn nhiên, những người lính cùng chung bát đũa để thắt thêm tình đồng chí gắn bó khăng khít. Họ nghỉ ngơi trong chốc lát trên chiếc võng mắc chông chênh. Từ láy “chông chênh” gợi hình gợi cả tính cách trẻ trung, ngang tàng của người lính. Sinh hoạt của người lính với cái ăn, cái ngủ được nhà thơ Phạm Tiến Duật miêu tả qua hai hình ảnh “bếp Hoàng Cầm” và “võng mắc chông chênh” thật độc đáo. Phải sống trong hiện thực cuộc chiến đấu đó, Phạm Tiến Duật mới có thể viết được những vần thơ đẹp đến thế. Thật khó khăn, gian khổ nhưng những người lính nghĩ về nó thật cảm động: “nghĩa là gia đình đấy”. Một khái niệm mới, dù xa nhà đi vào cuộc chiến đấu sinh tử, nhưng người lính vẫn ấm áp mái ấm gia đình, đó là tình đồng đội. Giọng điệu thơ dung dị, thanh thản mà mạnh mẽ như tính cách ngang tàng, ngạo nghễ bất chấp hiểm nguy của chiến tranh. Ngồi bên nhau trong phút chốc, họ lại tiếp tục lên đường theo tiếng gọi của quê hương, của miền Nam thân yêu:

“Võng theo ra chiến trường

Võng theo ta giải phóng

Tổ Quốc ơi muôn năm vững bền hai đầu

Lời ru xưa vỗ về

Lời ru nay thúc giục

Rộn lòng ta ra chiến trường.”

(Nguyên Nhung)

Bốn câu thơ cuối bài đã hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của người lính lái xe bởi ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam và lòng yêu nước nồng nhiệt của họ:

“Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Bằng việc sử dụng biện pháp liệt kê “không có kính, không có đèn, không có mui xe, thùng xe có xước” kết hợp với điệp ngữ “không có” hai câu đầu của khổ thơ không chỉ nhấn mạnh sự thiếu thốn về vật chất mà còn diễn tả sự mất mát đau thương dồn dập của tiểu đội xe không kính do bom đạn của quân thù dội xuống càng về cuối cùng càng ác liệt, nhưng điều kì lạ là những chiếc xe không còn nguyên vẹn ấy vẫn tiếp tục đi “xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”

Câu thơ cuối cùng như đọng lại một tâm huyết, cũng như một lời giải thích cho tất cả những điều kì lạ đẹp đẽ: “Chỉ cần trong xe có một trái tim”. Trái tim như ngọn đèn, như mặt trời ở cuối bài thơ như làm ấm, làm sáng rực lên chiến trường nhiều gian khổ.

 “Nếu được làm hạt giống để mùa sau

Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa

Vui gì hơn làm người lính đi đầu

Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa.”

(Chào xuân 67- Tố Hữu)

Kết bài:

Vui biết bao nhiêu khi lịch sử đã chọn những chàng Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi làm điểm tựa, để ngọn lửa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta trở thành một bản anh hùng ca bất diệt. Trong những năm tháng sục sôi khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” ấy, những người lính đi vào cuộc chiến đấu với tất cả tính chất chủ động, tự tin của những con người có lí tưởng cao đẹp, có sức mạnh và tiềm lực nên họ rất thanh thản, vui tươi. Bài thơ không chỉ phản ánh được sự khốc liệt, gian khổ của chiến tranh qua hình ảnh những chiếc xe không kính mà còn là lời khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất của người lính lái xe trên tuyến đường huyền thoại. Dù lớp bụi thời gian có phủ đầy những trang sách và những đổi mới của cuộc sống làm biến chuyển đi tất cả, nhưng hình ảnh những người lính cụ Hồ, những chiến sĩ Trường Sơn vẫn sống mãi trong lòng mọi người với tấm lòng trân trọng trọng, biết ơn.

Hy vọng sau khi cùng Học văn chị Hiên tìm hiểu về hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” các em sẽ có thêm kiến thức để viết nên bài văn mang dấu ấn của riêng mình thật xuất sắc nhé! Để theo dõi thêm nhiều bài học hay và thú vị hãy theo dõi ngay: Học văn chị Hiên.

Chúc các bạn nhỏ luôn học tốt!

------------------------

Học văn chị Hiên - Hơn cả một bài văn ☘☘☘


 

Tin liên quan